Nam sinh chịu trách nhiệm gì? Trong việc làm 4 bạn gái mang thai ở Phú Thọ

(TIN TỨC) – Thông thường một người phải chịu trách nhiệm hình sự khi vi phạm các quy định của bộ luật hình sự. Tuy nhiên độ tuổi của người thực hiện hành vi vi phạm cũng sẽ quyết định người đó có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

Theo Công lý & Xã hội đưa tin, mới đây, trên mạng xã hội xuất hiện thông tin 1 nam sinh đang học tại trường THPT Phong Châu (huyện Lâm Thao) cùng lúc khiến 4 bạn gái mang bầu.

Tất cả đều đã ở tháng thứ 6 trở lên nên không thể phá bỏ, trong số này có trường hợp mang thai đôi. Hiện cả 4 bạn gái của nam sinh này đã nghỉ học, nam sinh vẫn tiếp tục đến lớp.

Liên quan đến tin đồn này, bà Lê Thị Kim Hồng, Hiệu trưởng trường THPT Phong Châu thông tin: “Khi tin đồn rộ lên, nhà trường cũng đã trao đổi với cô giáo chủ nhiệm, với gia đình em Đ., gia đình trao đổi là để gia đình em này xác minh. Về phía nhà trường chưa nhận được đơn thư của gia đình hay em học sinh nào cả”.

Theo bà Hồng, nam học sinh tên B.T.Đ., hiện đang là học sinh lớp 10 A4 tại nhà trường.

Bà Lê Thị Kim Hồng nói: “Thông tin nam sinh này có 4 bạn nữ hay 1 bạn nữ thì chúng tôi cũng không thể nắm được. Em Đ., hạnh kiểm khá, học lực trung bình. Em trong lớp chỉ mất trật tự.

Đây là vấn đề tế nhị nên giao cho giáo viên chủ nhiệm lớp tâm sự, trao đổi với em Đ. cùng gia đình. Cô giáo cũng động viên các bạn trong lớp hòa đồng, em Đ. vẫn đi học bình thường. Ở trường cháu Đ. không phải là học sinh hư”.

“Chúng tôi đã thường xuyên tiến hành việc giáo dục, tuyên truyền cho các cháu biết về giáo dục giới tính vị thành niên, sức khỏe sinh sản tuy nhiên cũng không thể kiểm soát hết được”, bà Hồng nói.

Xem xét dưới góc độ pháp lý, nếu thông tin trên là thật thì hành vi làm 4 bạn gái mang thai của nam sinh lớp 10 có vi phạm pháp luật không?

Phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi khi nào?

Trong vụ tin đồn nam sinh lớp 10 làm 4 nữ sinh mang thai nhưng không rõ là những nữ sinh này mới 13 tuổi hay đã đủ 13 tuổi nên theo qui định của pháp luật sẽ chia ra 2 trường hợp để có thể đối chiếu vào tình huống.

Mọi hành vi giao cấu với người dưới 13 tuổi đều là hiếp dâm
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 142 BLHS thì mọi hành vi giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều là hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi (kể cả trong trường hợp nạn nhân hoàn toàn tự nguyện).

Do đó, nếu nam sinh này có hành vi giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em, mức phạt tù là từ 7 năm đến 15 năm.

Trong trường hợp, nữ sinh đã có thai thì người phạm tội có thể bị xử lý theo điểm b Khoản 2 Điều 142 là “Làm nạn nhân có thai”. Mức phạt của khoản này là bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Trường hợp nữ sinh từ đủ 13 tuổi

Nếu nam sinh dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác nữ sinh thì phạm vào “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi” như quy định ở trên với định khung là làm nạn nhân có thai.

Với trường hợp nữ sinh này tự nguyện. Theo quy định tại điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến 16 tuổi như sau: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ một năm đến 5 năm”.

Nhưng nữ sinh đã có thai nên theo điểm d, khoản 2, điều 145, hành vi này sẽ bị truy cứu theo khung hình phạt là từ ba năm đến mười năm tù.

Độ tuổi nào phải chịu trách nhiệm hình sự?

Quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2017 quy định về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.

Theo đó, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ được thực hiện như sau:

Người dưới 14 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người dưới 14 tuổi được coi là người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chưa có năng lực trách nhiệm hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự bởi vì xét về mặt sinh lý trí tuệ của đối tượng này chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ khi hành động.

Tuy nhiên trong một số trường hợp người phạm tội sẽ phải đưa vào trường giáo dưỡng để giáo dục.

Người từ đủ 14 tới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thuộc các điều trên.

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà bộ luật này có quy định khác

Về căn cứ xác định tuổi

Tuổi của một người được xác định từ thời điểm người đó được sinh ra. Căn cứ vào các loại giấy tờ có giá trị pháp lý gắn với nhân thân của người đó (như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, các loại văn bằng,…) mà các cơ quan tư pháp xác định độ tuổi của một người.

Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không thu thập được, hoặc không xác nhận được cơ sở pháp lý của các loại giấy tờ, thì các cơ quan tư pháp sẽ phải xác định ngày sinh của người phạm tội theo nguyên tắc có lợi cho họ.

Theo khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015, trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của người bị buộc tội, người bị hại được xác định trong 5 trường hợp như sau:

(1) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

(2) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

(3) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

(4) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

(5) Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Như vậy, theo quy định thì cách xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo, có nghĩa là trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng sinh của người bị buộc tội, người bị hại thì lấy ngày cuối cùng của tháng, của quý, của năm đó để làm ngày tháng sinh.

Cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là như nhau. Quy định như vậy đã bảo đảm được sự công bằng giữa người bị buộc tội với người bị hại theo nguyên tắc cơ bản của BLTTHS là “bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật”.

Tuy nhiên, nếu xác định tuổi của người bị hại nhằm truy cứu TNHS và xác định mức độ TNHS đối với người bị buộc tội theo quy định như trên thì sẽ gây bất lợi cho người bị buộc tội vì trong một số trường hợp, tuổi của người bị hại là căn cứ cho việc quyết định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc phân biệt các tội danh với nhau hoặc có ý nghĩa định khung hình phạt, quyết định hình phạt.

Về thời điểm tính tuổi
Ngày xác định độ tuổi của người phạm tội được tính ngay khi thực hiện hành vi phạm tội, bởi về nguyên tắc xác định năng lực của chủ thể là xác định vào thời điểm thực hiện hành vi. Vì vậy, tuổi được xác định vào thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tức là, hành vi phạm tội đã xảy ra vào thời điểm nào thì sẽ xác nhận độ tuổi của người phạm tội ở thời điểm đó.

Trong trường hợp hành vi phạm tội kéo dài và liên tục, có nhiều hành vi được thực hiện ở các thời điểm khác nhau, khi xác định độ tuổi thực hiện hành vi phạm tội có thể gặp trường hợp có hành vi thực hiện khi chưa đủ tuổi, có hành vi thực hiện khi đã đủ tuổi. Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ lấy độ tuổi ở hành vi cuối để xem xét trách nhiệm hình sự của họ.

Có nhiều trường hợp khi xác định độ tuổi của người phạm tội có tính chất “giáp ranh” thì các cơ quan tư pháp cần tách các hành vi ở từng độ tuổi để xem xét và sẽ tính tuổi theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội.

Theo: Việt Nam Mới

tap yoga vnxs